Chương 42
Những ngày sau đó, dinh cơ nhà họ Lê lại chìm vô cái nhịp sống phẳng lặng quen thuộc của nó.
Ngoài mặt thì cái sóng gió bữa hổm đã lặng tờ theo con nước lớn rồi.
Ông Bá hộ Trí vẫn đều đặn mỗi sáng xuống vựa lúa, trưa tiếp khách khứa bàn chuyện làm ăn, tối thì về nhà xem sổ sách như bao năm nay. Cậu Hai Thiện cũng trở về với cái bộ dạng ngược xuôi tất bật, lúc thì đi ghe bầu xuống tận Rạch Giá, lúc lại lên xe chạy thẳng lên Sài Gòn, gánh vác hầu hết cái sản nghiệp to đùng của gia đình. Hai cha con chạm mặt nhau mỗi ngày, ngặt nỗi mở miệng ra là toàn chuyện sổ sách, tàu ghe, giá lúa, tuyệt nhiên chưa một lần nào nhắc lại mấy lời ngoài lề.
Nhưng ngặt một nỗi, chính cái sự bình lặng ngoài mặt đó lại làm cho người ta ngột ngạt hơn cả những trận chửi bới, đập bàn. Nó y như cái không khí oi nồng trước lúc trời đổ trận mưa dông, đứng gió, đứng hình, làm lồng ngực đứa nào đứa nấy đều thắt ngặt.
Trong cái dinh cơ bề thế này, bà Hai ngày một ít nói ít cười hẳn đi. Mỗi sáng bà vẫn lần tràng hạt lách cách, mỗi chiều vẫn lặng lẽ thắp nhang nơi bàn Phật, khói hương nghi ngút. Trong nhà, chỉ có mình bà Bếp là tinh ý nhận ra, từ sau cái chuyến Sài Gòn trở về, bà chủ thường hay thức rất khuya. Nhiều đêm nghe tiếng côn trùng nỉ non ngoài liếp, bà Bếp thức giấc, vẫn dòm thấy bóng bà Hai đứng lặng ngắt ngoài hàng ba, cặp mắt láo liên nhìn về phía bến sông tối thẫm đến quá nửa canh giờ, hông biết là đang đợi điều chi.
Mợ Hai Tuyết thì vẫn vậy. Tuy mợ hông còn nhắc đến mấy chuyện khuất tất của Hai Thiện trên Sài Gòn, cũng hông thèm đá động đến cái tên thằng Mẫn thêm một lần nào nữa. Ngày ngày mợ chỉ quanh quẩn chăm sóc cho Gia Khang, rồi lăng xăng phụ bà Hai quán xuyến việc trong nhà ngoài cửa, đối đãi với kẻ ăn người ở vẫn dịu dàng, thục đức như thuở mới về làm dâu.
Cái điệu bộ đó của mợ làm cho ai nấy trong nhà cũng nghĩ mợ đã chịu chấp nhận cảnh chồng mình có chút bướm hoa bên ngoài. Nhưng thiệt ra, chỉ có con Cúc là biết rõ cái dã tâm của mợ chủ mình nó sâu tới cỡ nào.
Cứ mỗi ngày, khi trời sập tối và công chuyện nhà dưới đã hửng, con Cúc lại lấm la lấm lét mò lên buồng riêng để tường trình lại tất thảy mọi chuyện từ lớn chí nhỏ trong nhà mà nó dỏng tai nghe ngóng được. Tuyết thì ngồi trên chiếc ghế dựa, tay cầm chiếc lược ngà chải tóc, mắt đăm đăm nhìn vào tấm gương đồng, lặng lẽ lắng nghe từng lời của nó không sót một chữ.
Trong số những chuyện tai vách mạch rừng đó, đặc biệt nhất và cũng là chuyện mợ Hai Tuyết đưa vô tầm ngắm kỹ càng nhất, chính là chuyện ăn uống, dưỡng thai của mợ Ba Loan. Từ cái chuyện sáng nay mợ Ba thèm chua ăn mấy trái khế kiểng sau vườn, trưa bếp dọn lên món cá lóc kho nghệ mợ Ba ngửi mùi chịu hông thấu phải lánh mặt, cho tới chén thuốc bắc hộ thai do đích thân bà Bếp sắc mỗi chiều… con Cúc đều ghi nhớ nằm lòng rồi đem về kể lại rành mạch từng chi tiết một. Đối với Tuyết lúc này, cái bào thai hai tháng trong bụng mợ Ba Loan hông khác nào một trái bom hẹn giờ, có thể nổ tung và hất văng mẹ con mợ ra khỏi cái gia tài họ Lê bất cứ lúc nào, thành thử mợ phải dè chừng tỉ mỉ, hông dám lơ là dù chỉ một khắc.
Phía bên kia, tận trên Sài Gòn phồn hoa đô hội, tiệm may vẫn như bao ngày. Mẫn vẫn ở cạnh bên anh Dương phụ việc, sáng dậy sớm quét tước mở cửa tiệm, tối mịt thì kiểm hàng, phụ giúp sổ sách, thỉnh thoảng lại theo anh đi giao mấy bộ đồ tây cho mấy ông lớn, bà lớn khách quen.
Cậu Hai Thiện tuy không thường xuyên nhưng cách ít lâu vẫn ghé qua tiệm, đôi lần còn dắt theo cả Tuấn. Cậu cũng lo cũng sợ chứ, sợ cái lời đe dọa của ông Bá mà cậu cũng sợ cái thế kẹt của bản thân sẽ làm khổ lây sang người ta.
Mà sợ thì sợ, thương thì thương.
Chỉ có đôi khi là bánh mứt, đồ dùng hằng ngày, toàn đồ thượng hạng đắt tiền, lúc thì là trái cây ngon dưới quê, hoặc mấy cuộn vải ngoại nhập đắt tiền được lặng lẽ mang đến đặt trước cửa tiệm lúc tờ mờ sáng, tuyệt nhiên có tên người gửi đàng hoàng hẳn hoi mà không thấy mặt mũi đâu hết ráo.
Dương nhìn qua mấy xấp vải thượng hạng đó thì thừa sức đoán được là của ai.
Còn phần của Mẫn… mỗi lần dòm thấy mấy món đồ kèm hoa hòe đủ thứ. Nó chỉ lặng lẽ ôm đống đồ lên lầu mà mặt đỏ bừng cẩn thận cất lên cái kệ cao nhất, rồi lại lầm lũi cúi đầu đạp máy may, tỉ mẩn từng đường kim mũi chỉ như chưa từng có chuyện gì xảy ra trên đời.
Mùa mưa năm ấy kéo dài dai dẳng hơn mọi năm, làm cho nơi Sài Gòn phồn hoa cũng nhuốm một màu xám xịt, ủ dột.
Những cơn mưa xối xả ngày nối ngày, hơi nước ẩm lạnh từ lòng đường bốc lên làm cái vai trái của thằng Mẫn bắt đầu trở chứng.
Vết thương cũ do trúng đạn dạo nọ cứ hễ trở trời là nhức buốt thấu xương. Có bữa đau chịu hông thấu, nó đang đứng cắt vải mà gương mặt tái mét, tay run run phải lén vịn vô mép bàn gỗ để lấy hơi, mồ hôi hột rịn ra ướt cả vạt áo.
Dương thấy vậy xót ruột quá chừng, liền ép nó phải lên bệnh viện lớn khám lại. Ban đầu Mẫn còn ngại tốn tiền, cứ lắc đầu nguầy nguậy nói ráng chịu vài bữa nắng lên là hết hà, nhưng rốt cuộc qua không nổi cái tính cộc cằn mà thương em của Dương, nó cũng chịu để anh kéo đi.
Người khám cho Mẫn hôm ấy là một bác sĩ trẻ tên Liêm.
Anh vốn mới từ trường Y Đông Dương về công tác chưa lâu, nổi tiếng mát tay, học thức cao rộng nhưng tính tình lại điềm đạm, ít nói.
Buổi trưa hôm đó, trong căn phòng khám sực mùi thuốc sát trùng của bệnh viện, Liêm ngoắc tay biểu Mẫn cởi áo ra để anh kiểm tra lại vết thương. Mẫn hơi ngập ngừng, hai bàn tay thon chậm rãi cởi từng chiếc nút áo sơ mi trắng ra.
Khi lớp vải tuột xuống khỏi bờ vai, Liêm bỗng khựng lại mất vài giây, anh đẩy nhẹ gọng kính, rồi di chuyển tầm mắt lên xuống.
Hiện ra trước mắt anh là một bờ vai tuy không quá vạm vỡ nhưng lại săn chắc, có cơ có thịt rõ ràng nhờ những năm tháng lam lũ, làm lụng vất vả dưới quê chớ hông phải kiểu cậu ấm nhà giàu.
Làn da của Mẫn hồi trước vốn dĩ ngâm đen, giờ trắng trẻo một cách tự nhiên, thanh tân, làm nổi bật lên vết sẹo của đầu đạn găm vào da thịt dạo trước, tuy trên vai, trên ngực cũng có ít những vết sẹo, vết chai do làm việc nặng, nhưng vết đạn bắn này lại độc địa và rõ mồn một ngay bả vai.
Sự tương phản đối lập giữa nét hiền hiền trên khuôn mặt với sự tàn nhẫn của vết thương do súng đạn làm tim Liêm nhói lên một cái.
Anh khẽ nuốt nước miếng, bàn tay vô thức chạm nhẹ lên bờ vai Mẫn để kiểm tra khớp xương, cảm nhận được cái rùng mình khe khẽ của nó.
Cái ấn tượng đầu tiên ấy, găm thẳng vô lòng anh ngay từ khoảnh khắc đó.
Sau khi xem kỹ vết thương và xoa bóp nhẹ. Liêm thở dài, bảo vết đạn năm xưa dẫu lành nhưng để lại di chứng bên trong do trúng vô nhóm cơ sâu, giờ gặp mưa lạnh là hành dữ lắm.
Những lần tái khám sau đó, người tiếp Mẫn vẫn luôn là Liêm.
Từ chỗ chỉ hỏi han vài câu công thức về sức khỏe, hai người dần dà quen mặt. Liêm biết Mẫn làm ở tiệm may Tân Thời, còn Mẫn cũng biết vị bác sĩ ấy dẫu học trường Tây nhưng rất thích mặc áo dài kiểu Nam Kỳ truyền thống, lâu lâu lại ghé tiệm đặt may vài bộ diện Tết hay đi tiệc.
Có lần Liêm mang sang một hộp thuốc xoa bóp do người quen gửi từ Pháp về, bảo loại này dùng cho người đau nhức rất hiệu nghiệm, dặn Mẫn tối tối nhớ nhờ anh Dương thoa giùm. Lần khác đi khám về, anh lại nhét vô tay nó ít bánh quy bơ hộp thiếc đắt tiền.
“Coi bộ, dạo này cậu hơi gầy đi, phải chịu khó ăn thêm cho có sức chớ!”
Mẫn vốn tá tính thật thà, hồi trước chịu khổ quen rồi nên giờ ai đối tốt với mình một chút là nó đều ghi nhớ, cảm động trong lòng.
Nó chỉ nghĩ bác sĩ thương người bệnh nên lần nào gặp cũng lễ phép cúi đầu chào hỏi dạ thưa, đôi khi có gì ngon nó hay biếu lại anh Liêm cho phải… Thật ra nó không muốn mắc nợ ai.
Còn Liêm thì dường như ngày càng tìm nhiều lý do để ghé qua tiệm may hơn.
Lúc thì nói cần sửa lại cái cổ áo dài bị chật một chút.
Lúc thì bảo thay cái nút tay áo bị sút chỉ.
Lúc lại tự mình mang một cuộn vải ngoại nhập thượng hạng đến nhờ anh Mẫn xem giúp coi mặt vải này may kiểu nào thì hợp đứng dáng.
Thiệt ra, mấy việc cỏn con ấy, một vị bác sĩ bận rộn như anh chẳng cần thiết đến mức phải tự mình chạy sang hết lần này đến lần khác.
Nhưng mỗi lần bước chân vô tiệm, dòm thấy bóng dáng nhỏ nhắn của Mẫn đang cúi đầu cắt vải dưới khung cửa sổ, nghe tiếng máy may đạp cọc cạch đều đặn, hay nghe cậu nở nụ cười hiền hậu, trong trẻo chào đón khách vào, lòng Liêm lại thấy nhẹ nhõm, bình yên một cách lạ lùng. Nó xua tan đi cái mệt mỏi của những ca bệnh, cái ngột ngạt của mùi thuốc bệnh viện.
Đó không phải thứ tình cảm bốc đồng, vồn vã của tuổi trẻ.
Mà nó giống như một người đã quen chứng kiến quá nhiều sự đau đớn, sinh ly tử biệt, bỗng một ngày đẹp trời gặp được một ánh mắt trong ngần đến mức khiến người ta chỉ muốn chở che, giữ cho nó mãi mãi bình yên.
Còn Mẫn…
Từ đầu đến cuối, cái đầu óc đơn thuần của nó vẫn chẳng hề hay biết gì về tâm tư của bác sĩ Liêm. Trong lòng nó, hình bóng cậu Hai Thiện vốn dĩ đã khắc sâu vào tim gan từ những ngày lam lũ dưới quê, thành thử ra đâu dễ gì mà phai nhạt đặng.
Tuy Mẫn thiệt thà không nghĩ ngợi gì xa xôi, nhưng Dương thì có. Dương dòm một cái là rõ mồn một cái tâm tư của một người đang yêu. Chỉ có điều, vì cái tình này vốn dĩ nó khác biệt với lí lẽ thông thường ở đời, nên cái cách thổ lộ của Liêm cũng phải chọn lối âm thầm, lặng lẽ nhất có thể, hệt như những vệt nắng chiều thu khẽ khàng rọi qua khe cửa.
Bản thân Dương đứng giữa cũng hông biết phải tính làm sao cho đặng bề. Mặc dầu anh đã nhiều lần cố gắng tìm cách xen vô, khi thì kiếm chuyện đuổi khéo, khi thì cố tình nhắc khéo chuyện cậu Hai Thiện trước mặt Liêm để anh bác sĩ trẻ tự biết đường mà lui bước, ngặt nỗi mọi chuyện cũng hông đi tới đâu hết. Cái tình cảm của Liêm cứ như mạch nước ngầm, càng nén lại càng âm ỉ tuôn chảy, làm cho cái tiệm may Tân Thời nhỏ xíu giữa lòng Sài Gòn bỗng chốc trở thành nơi chôn giấu những nỗi niềm khó tỏ của ba con người, ai cũng có một góc khuất trong lòng hông biết ngày nào mới tỏ tường. Nên thôi, chuyện tình duyên thì hãy để người trong cuộc tự mình gánh vác vậy.
Ít lâu sau đó, mùa mưa dai dẳng cũng chịu những chỗ cho những ngày cuối năm nắng ráo.
Thương hội An Phú nhận được một bức điện tín từ mấy tay buôn có máu mặt trên vùng cao nguyên. Họ ngỏ ý muốn hợp tác lâu dài, muốn mời đích thân Cậu Hai Thiện lên Đà Lạt một chuyến để bàn chuyện lập vựa thu mua trà, cà phê và nông sản, rồi theo đường xe lửa chuyển ngược về lục tỉnh, sau đó xuất cảng sang Tây.
Nghe tới hai tiếng Đà Lạt, Hai Thiện lặng người đi một lúc.
Đã nhiều tháng nay, cậu sống giữa đủ thứ ngột ngạt. Ngay cả chuyện gặp Mẫn đôi ba bữa một lần cũng phải dè chừng trước sau.
Đà Lạt thì khác.
Một vùng đất xa lạ, cách Sài Gòn cả mấy ngày đường, quanh năm mây phủ, người quen chẳng có bao nhiêu. Nghĩ tới đó, trong lòng cậu bỗng nhẹ đi đôi chút.
Lúc nhận được tin, cậu vẫn còn trên Sài Gòn. Thấy vậy, Thiện không chần chừ thêm. Hôm sau sẵn tiện tạt ngang qua tiệm may, cậu ghé vào luôn.
Buổi trưa hôm đó tiệm vắng khách, Thiện bước vô, thấy Dương đang ngồi ghi chép sổ sách bên bàn. Cậu Hai kéo cái ghế đôn ngồi xuống gần bên, điệu bộ cố tỏ ra thoải mái, cất giọng cười huề huề:
- Chào cậu chủ Dương hen. Sắp tới cuối năm chắc khách khứa đông nghẹt, đặt đồ ăn Tết dữ lắm phải hông cậu.
Dương ngước mắt lên, dòm cái bộ dạng đon đả của Thiện thì nhướng mày, đặt cây bút máy xuống bàn, giọng điệu nửa đùa nửa thật:
- Đông thì đông thiệt đó, chớ có cậu Hai bao bọc thì tiệm nhỏ này sống khỏe re hà. Mẫn đi giao hàng rồi, mà bữa nay lên đây có chuyện chi nói đại đi, bày đặt hỏi thăm vòng vo quá qua tôi nghi nghe.
Thiện gãi gãi đầu, cười khì một tiếng rồi ghé sát lại, hạ giọng nhỏ nhẹ:
- … sẵn dịp sắp tới tôi đi xa chuyến, nên muốn xin cậu, cho thằng Mẫn của tôi nó nghỉ việc ít ngày, để tôi chở nó theo lên trển chơi cho biết đó biết đây. Trên đó quanh năm sương mù, cảnh sắc đẹp lắm, sẵn tiện cho nó đi du lịch nghỉ mát cho khuây khỏa đầu óc chút.
Dương nghe vậy thì thì có hơi nhíu mày… Anh hỏi:
– Đừng nói với tôi là anh dắt theo mợ Hai gì gì đó nữa nghe chưa… Nói cho anh biết, chỗ nào có cô ta thì đừng có thằng Mẫn.
Thiện khua tay.
– Tôi trốn còn hông kịp, dắt cổ theo chi. Chuyến này đi mần ăn thuần túy, có cả… Hai Tuấn đi chung nữa mà. Yên tâm, tôi lấy danh dự đờn ông con trai ra bảo đảm.
Dương nghe tới cái tên Hai Tuấn thì trong dạ tự dưng đánh thót một cái, chân mày đang nhíu lại bỗng giãn ra chút đỉnh, ngặt nỗi cái miệng vẫn còn cứng cỏi:
- Tuấn… cũng đi nữa hả?
Thiện tinh ý dòm thấy cái điệu bộ ngập ngừng của Dương liền biết ngay trúng tim đen, cậu nhếch môi cười khẽ, thừa thắng xông lên dụ dỗ:
- Thì bởi vậy đó… Thôi, tôi chỉ nói vậy thôi, phải được người trong lòng đích thân mời đi thì mới vui được.
Nói xong, Thiện đứng dậy rồi bước thẳng ra cửa, trước khi đi còn nói với lại.
– Vậy nghen, nhờ cậu chuyển lời giúp!!