Chương 40:
Đêm trước ngày Hai Thiện trở về, bà Hai trằn trọc cả đêm mà không ngủ nổi.
Mãi đến khi tiếng muỗi, tiếng dế ngoài vườn bắt đầu thưa dần thì bà mới chập chờn thiếp đi được một chút.
Trong cơn mộng mị, tấm màn sương mờ của thời gian bỗng chốc lùi lại hơn ba mươi năm trước.
Trong giấc mơ, bà không còn là bà Hai của nhà họ Lê.
Bà chỉ là Thủy.
Một cô gái mặc áo bà ba màu thiên thanh, mái tóc dài buông sau lưng, đôi mắt trong veo chưa vương chút muộn phiền. Nhà bà thuộc hàng khá giả trong vùng, cha bà lại có mối giao tình làm ăn khăng khít với nhà họ Lê từ lâu.
Ngày ấy, bên đời bà còn có Công.
Anh chỉ là một chàng trai mồ côi cha mẹ từ sớm, sống đơn chiết một mình. Gia cảnh không sang cũng chẳng đến nỗi bần hàn. Anh có vài công ruộng, trong đầu có ít chữ nghĩa, tính tình lại nhã nhặn sống hiền lương.
Hai người họ quen nhau từ thuở còn nhỏ, lớn lên cùng nhau. Khi đã trở thành thanh niên, thiếu nữ, thì tình cảm cũng cứ thế theo năm tháng mà nảy nở.
Nhưng rồi, một buổi chiều định mệnh, cha Thủy gọi bà lên nhà trên.
Ông Bá hộ Lê đã sang ngỏ lời, cậu Hai Trí khi ấy đem lòng say đắm vẻ đẹp nết na của bà, nằng nặc đòi hỏi cưới. Hai bên gia đình đều môn đăng hộ đối, lại sẵn mối giao hảo lâu năm, trong mắt người lớn thì đây là một mối duyên trời ban, thập phần viên mãn.
Không một ai hỏi cô Thủy có bằng lòng hay không. Cũng chẳng một ai mảy may quan tâm một thằng con trai đơn độc như Công đang nghĩ gì. Ngày cưới được định đoạt nhanh chóng, định luôn cả dấu chấm hết cho mối tình đầu dang dở.
Đêm trước ngày cưới… Cơn mưa đầu mùa trút xuống xối xả, trắng xóa cả một khoảnh sông.
Công đứng dưới hiên sau nhà Thủy, tấm áo bết chặt vào người, sũng nước. Thủy vừa đẩy cửa bước ra, chạm mặt anh là nước mắt đã trào ra lã chã. Đêm ấy, hai người chẳng nói với nhau được bao nhiêu câu, chỉ biết lao vào ôm lấy nhau thật chặt, lòng gắt gao, đau đớn, như thể sau đêm nay, họ sẽ vĩnh viễn lạc mất nhau trên cõi đời này.
Trong căn chòi cũ bên hiên vắng, họ dâng hiến cho nhau tất cả sự trong sạch và lòng chung thủy, như một lời thề ngầm định rằng linh hồn họ vĩnh viễn thuộc về nhau.
Khung cảnh trong mơ bỗng chốc đảo lộn. Tiếng pháo cưới nổ vang trời, khói xác pháo bay mù mịt cả con đường đất dẫn vào nhà họ Lê. Thủy khoác lên mình bộ áo cưới đỏ thắm, ngồi lặng ngắt trong kiệu hoa, khuôn mặt cúi thấp sau tấm khăn voan trùm đầu. Chẳng một ai nhìn thấy, nước mắt cô dâu mới đã rơi ướt đẫm cả vạt áo dài từ bao giờ.
Thời gian lẳng lặng trôi đi. Công bán bớt đất đai, rồi xin vào làm việc cho dinh cơ nhà họ Lê…
Nhờ anh biết chữ nghĩa, tính tình lại cẩn thận, chu toàn nên được ông Bá giao cho phụ giúp việc sổ sách, trông coi các chuyến buôn, thỉnh thoảng còn tháp tùng cậu Hai Trí đi gặp khách hàng.
Họ gặp nhau mỗi ngày trong cái khoảng sân rộng lớn ấy, nhưng giữa hai người giờ đây chỉ còn lại những cái cúi đầu xa lạ, những tiếng dạ thưa chừng mực của kẻ bề dưới và mợ Hai chủ nhà. Không một ai dám nhìn vào mắt ai quá ba giây, nỗi đau đành chôn chặt vào thâm tâm.
Rồi thêm một lần nữa, khung cảnh lại đổi dời.
Ngoài trời mưa dông như trút nước, sấm chớp rạch ngang trời lục tỉnh.
Trong một căn phòng lập lòe ánh đèn dầu vàng vọt, tiếng bà mụ đỡ đẻ hối hả vang lên từng hồi giục giã.
Ngoài cửa, Công đi tới đi lui không yên một khắc, hai bàn tay siết chặt vào nhau nến nổi gân. Mồ hôi trộn lẫn nước mưa chảy dài trên gương mặt ngập tràn vẻ lo âu.
Cửa phòng bật mở. Bà Bếp thuở ấy là chị Hồng. Vừa thấy Công ở ngoài, chị liền nhíu mày, tặc lưỡi, một tay cầm thau nước đỏ au, một tay kéo Công lại phía sau dãy nhà, khuất người qua lại, nhớn nhác nhìn quanh rồi nghiến răng nói nhỏ:
– Cậu Công!!! Cậu điên rồi hả, ông Bá, bà Cả rồi Cậu Hai Trí còn đang ngồi ở gian nhà bên chờ tin, ngộ nhỡ họ qua đây kiểm tra, hay người nào thấy, người ta tọc mạch thì khổ Mợ, khổ đứa nhỏ!!!
Công lo lắng đến mức lạc cả giọng, cứ nắm lấy vai chị Hồng hỏi đi hỏi lại:
- Tôi biết, tôi biết chớ… Nhưng tôi nghe tiếng cô ấy hét, tim tôi chịu hông nổi. Sao rồi chị Hồng? Thủy… mợ Hai sao rồi chị? Sao cô ấy hét dữ vậy…?
– Bình tĩnh đi! Đang ráng rặn, sắp rồi! Anh đó… khôn hồn thì lui ra sau phòng sổ sách mà đứng, đừng có lảng vảng ở đây nữa!!!
Bên trong lại vang lên một tiếng kêu đau xé lòng của người đàn bà vượt cạn. Công cắn chặt môi, hai mắt đỏ hoe nhìn đăm đăm vào bức màn vải.
*Đoành
Một tiếng sấm nổ vang trời, và ngay sau đó, tiếng trẻ con khóc “oe oe” nấc nghẹn vang lên. Âm thanh ấy lọt qua khe cửa gỗ, mãnh liệt xé toạc cái không khí ngột ngạt của đêm dông, khiến cả khoảng sân như lặng đi trong giây lát.
Công chết lặng vài giây, đôi mắt anh mở to, toàn thân run bắn lên vì một thứ xúc cảm vỡ òa. Rồi anh bật cười, thứ cảm xúc giống như là hạnh phúc đến điên cuồng, bỗng chốc hiện trên gương mặt đẫm nước mưa. Đứa nhỏ đã bình an đến với thế giới này rồi!
Thế nhưng, khi anh định bước tới một bước, thì sau dãy nhà… Cậu Hai Trí cùng ông Bà Hai đã tức tốc chạy vào trong, chẳng mấy chốc mà bên trong đã rộn lên tiếng cười của Cậu Hai, một người đã được làm cha.
Bên ngoài, Công rướn người nhìn theo, phải rồi… đứa trẻ đó sinh ra là để làm cậu Hai – cháu đích tôn, trưởng nam nhà họ Lê sau này…
Nỗi sướng vui tột cùng bỗng chốc đan xen với niềm bất lực thấu xương tủy, khiến đôi chân Công chịu không nổi nữa. Giữa tiếng sấm rền và trận mưa dông như trút nước ngoài hiên, Công khuỵu hai đầu gối, quỳ sụp xuống nền gạch tàu lạnh ngắt. Anh chắp hai bàn tay chai sần, run rẩy hướng lên trời cao, nước mắt hòa cùng nước mưa chảy ròng ròng trên gò má, nghẹn ngào lầm bầm khấn nguyện:
- Con lạy trời lạy phật… lạy hoàng thiên hậu thổ… Xin trời đất bảo bọc cho mẹ con cô ấy được tai qua nạn khỏi, bình an một đời. Đứa nhỏ hông có tội tình chi hết… Tội lỗi, nghiệp chướng của cái đêm thề hẹn đó, một mình thằng Công này xin gánh hết, gánh sạch sành sanh… Chỉ cầu cho con trai… Cậu chủ, được sống mạnh khỏe, đời đời hiển vinh…
Công vừa lạy vừa dập đầu xuống nền gạch ướt sũng, tiếng da thịt va vào gạch nghe trầm đục, lẫn khuất trong tiếng sấm dội ngoài bến sông.
*Đoành
Bà Hai giật mình tỉnh giấc, mồ hôi vã ra ướt đẫm cả chiếc gối lụa. Bà ngồi bật dậy trong căn phòng tối om, hơi thở dồn dập, tim đập thình thịch như đánh trống trận. Hóa ra chỉ là một giấc mơ, nhưng cái cảm giác nghẹt thở ấy cứ ám ảnh bà khôn nguôi. Bà siết chặt chiếc tràng hạt mun đặt ở đầu giường, lòng dâng lên một nỗi sợ hãi tột cùng.
– Sao vậy?
Bà giật bắn mình khi thanh âm khàn khàn, trầm đục của ông Bá Trí bất chợt vang lên bên cạnh. Trong bóng tối lờ mờ của căn buồng, giọng bà lập bập, bàn tay gầy guộc vội vã quẹt nhanh đi giọt nước mắt lạnh ngắt đã trào ra từ bao giờ:
- Ủa… Mình thức rồi hở mình? Dạ… hông có chi đâu, tại tui nằm bao mộng thấy bậy bạ nên giật mình chút xíu hà… Thôi mình nằm nghỉ lưng thêm chút nữa đi, để tui ra sau bếp coi tụi nhỏ nhóm lửa nấu nước pha trà sớm cho mình.
Ông Bá hộ không nói thêm lời nào, chỉ khẽ ậm ừ một tiếng cộc lốc trong cổ họng rồi xoay người nhắm mắt ngủ tiếp.
Bà Hai lúc này mới dám thở phào nhẹ nhõm, chầm chậm bước xuống giường, sửa lại vạt áo cho ngay ngắn rồi xỏ chân vào đôi guốc mộc, lặng lẽ đi thẳng ra gian nhà sau.
Bà bước ra gian sau, cái lạnh của sương sớm hòa với hơi đất ẩm ướt sau trận mưa đêm làm bà khẽ rùng mình. Nhưng khi vừa tới bực cửa bếp, một luồng hơi ấm thân thuộc đã phả vào mặt.
Dưới bếp, lửa đã đỏ tự bao giờ. Ánh lửa bập bùng soi rõ bóng dáng một người đàn bà luống tuổi đang ngồi xổm nhóm lò. Chị Hồng năm xưa, giờ đã là bà Bếp tóc chớm sợi bạc.
Nghe tiếng guốc mộc khua nhẹ trên nền gạch, bà Bếp không cần ngẩng đầu cũng biết là ai. Bà dập bớt ngọn lửa rơm, kéo cái ghế gỗ thấp sang một bên, giọng nhỏ xuống:
- Sao đêm nay bà chủ ngủ kém dữ vậy? Trời còn chưa hửng mà đã xuống đây rồi.
Bà Hai không ngồi lên ghế, bà bước tới, thong thả ngồi bệt xuống cái đòn gỗ sờn cạnh bếp lửa giống như ba mươi năm trước, cái thuở bà mới chân ướt chân ráo về làm dâu, những đêm bà ông Bá Trí vắng nhà, bà hay ra đây ngồi với chị Hồng, là người hầu cận theo bà bao năm từ nhà cha mẹ ruột sang đây. Bà đưa hai bàn tay gầy guộc ra hơ trên lửa, giọng chùng xuống, mệt mỏi:
- Tôi nằm mộng, tự nhiên lại thấy cái đêm thằng Thiện ra đời.
Hai chữ “thằng Thiện” vừa thốt ra, tay bà Bếp đang cầm thanh củi bỗng khựng lại. Khác với vẻ hắc dịch, canh chừng tụi con ở thường ngày, ánh mắt bà Bếp nhìn bà Hai lúc này hoàn toàn là sự xót xa của một người chị, một người tri kỷ đã cùng đi qua nửa đời giông bão.
Bà Bếp thở dài, bỏ thanh củi vào lò, nói nhỏ:
- Sao tự dưng lại nhớ chuyện cũ mần chi cho nặng lòng…
– Cũ thì cũ chứ tui không quên được…
Nước mắt bà Hai lại chực trào ra, giọng bà nghẹn lại.
– Tui thấy người ta ẵm thằng Thiện đi, nhưng mặt mũi nó bị khói che khuất, tôi nhìn hoài không ra. Chị Hồn, có phải thằng Thiện sắp có chuyện rồi không?
Bà Bếp xích lại gần, đưa bàn tay thô ráp, chai sần vì củi đuốc nắm lấy bàn tay đang run rẩy của bà Hai. Bà siết nhẹ như một lời an ủi.
– Bà chủ đừng lo quá mà hại thân… Cậu Hai phước lớn mạng lớn, với lại mợ Ba trên nhà lớn cũng sắp có tin vui rồi, nhà họ Lê mình coi như đã có người nối dõi đường hoàng. Bà lo chi nữa. Còn chuyện của cậu Hai trên trển… để tạt qua đợt này xem sao, mình lựa lời nói sao cho khéo với ông Chủ là được.
Bà Hai nghe tới đó, lòng đang thắt ngặt như thòng lọng bỗng chốc cũng giãn ra được chút đỉnh.
– Ừ, chị nói phải.