Chương 45
Sáng nay, như thường lệ bà Hai thức dậy từ rất sớm.
Mặt trời còn chưa nhô khỏi hàng dừa sau vườn, màn sương mỏng vẫn còn lờ mờ phủ kín mặt sông, thì trong gian nhà trên, bà Hai đã lặng lẽ thắp xong nén nhang đầu ngày trước bàn Phật. Khói hương quyện cùng mùi trầm thoang thoảng lan khắp gian nhà gỗ gõ đỏ, làm không gian càng thêm tịch mịch, u uẩn.
Hôm nay là hai mươi hai tháng mười âm lịch, là ngày bà lên chùa.
Năm nào cũng vậy, mỗi khi tới ngày này là bà đều tự tay chuẩn bị lễ vật đem lên chùa cầu siêu, xin các sư thầy tụng một thời kinh cho người đã khuất. Chuyện ấy đã thành cái lệ riêng của bà từ hơn hai mươi năm nay, dẫu bận rộn trăm công nghìn việc hay thân thể có đau nhức thế nào, chưa một lần nào bà bỏ sót.
Ngoài hiên dưới, bà Bếp cũng đã tất tả dậy từ lúc con gà trống mới gáy canh tư. Bà lụi cụi lựa từng nải chuối cau còn xanh mướt, dùng khăn ấm lau sạch mấy trái bưởi, trái cam, sắp ngay ngắn vô chiếc giỏ mây lớn. Bên cạnh đó là bánh trái, ít nhang đèn, dầu phụng và vài xấp giấy tiền vàng bạc đã được buộc gọn ghẽ bằng dây lạt dừa.
Chiều hôm qua, con Cúc đi ngang qua gian bếp vô tình nghe được bà Hai dặn dò bà Bếp sáng sớm chuẩn bị đồ đi chùa. Cái tính tọc mạch vốn có, cộng với việc muốn lập công với chủ mới, nên tối đó, vừa chờ trong nhà yên tiếng động, nó liền tất tả chạy lên buồng riêng của mợ Hai Tuyết, đem chuyện nghe ngóng được kể lại rành rọt từng chút một.
Nghe xong, Tuyết cũng chỉ gật gù, gương mặt hông chút biểu cảm.
Chuyện bà Hai lên chùa vốn chẳng có gì lạ. Mấy năm nay, hễ tới khoảng thời gian này bà đều cùng bà Bếp lên chùa dâng hương, nói là để cầu bình an cho gia đạo, cầu cho chuyện làm ăn của tiệm vải dưới chợ thuận buồm xuôi gió. Thành thử, chuyện ấy vốn dĩ đã thành lệ, trong nhà ngoài ngõ chẳng ai còn để bụng làm chi.
Ngặt một nỗi…
Con Cúc lại bước tới gần hơn, nhỏ giọng nói thêm một câu đầy bí hiểm:
– Mà kỳ lắm mợ Hai. Hồi chiều con thấy bà Bếp gói riêng một bọc giấy tiền vàng mã nhiều dữ lắm mợ. Con còn nghe bả dặn người làm lựa thêm nhang đèn loại đại với mấy xấp giấy áo nam nữa hà.
Tuyết đang ngồi thong thả chải tóc trước gương, nghe tới đó thì bàn tay cầm chiếc lược ngà bỗng khựng lại giữa khoảng không.
Giấy tiền vàng mã… lại còn có cả giấy áo nam?
Nếu chỉ đi cầu an cho gia đạo như mọi lần, thì mang theo ít nhang đèn, hoa quả chay tịnh là đủ lễ nghĩa rồi. Cớ sao lần này bà Hai lại chuẩn bị cả một bọc vàng mã lớn, lại còn chu đáo chuẩn bị cả đồ thế cho đàn ông?
Tuyết lặng lẽ nhìn bóng mình trong tấm gương đồng mờ đục, đầu ngón tay sơn móng đỏ khẽ gõ nhịp đều đặn lên thành bàn trang điểm bằng gỗ cẩm lai. Bà Hai bấy lâu nay vẫn nói với cả nhà rằng chỉ lên chùa cầu phước cho gia đình.
Vậy… số vàng mã và xấp giấy áo nam kia là để cúng cho vong hồn khuất mặt khuất mày nào?
Nghĩ tới đó, trong lòng Tuyết bỗng nổi lên một chút nghi hoặc mơ hồ. Cái sự nghi ngờ tuy không lớn, nhưng giữa cái gia đình mà có nhiều điều mợ chưa biết hết này, nó cũng đủ để mợ quyết định sáng mai phải cho người âm thầm theo sau bà Hai, xem thử rốt cuộc người đàn bà quyền lực nhất cái nhà này có đang giấu giếm điều khuất tất gì không.
Chuyện cũ dẫu sao cũng đã lùi xa hơn hai mươi năm trời.
Hồi đó, đất Nam Kỳ còn đang vào buổi giao thời đầy biến động. Chánh phủ Tây cho mở thêm lộ xe, bồi đắp kinh rạch, tàu bè từ các nước đổ về tấp nập.
Dưới sông thì ghe thương hồ từ khắp lục tỉnh ngày đêm xuôi ngược dập dìu. Gạo, lúa, than đá, cao su, thuốc rê, nước mắm… thứ gì cũng được giá, trao tay là có tiền tươi thóc thật.
Kẻ biết nắm thời cơ thì chỉ trong vài ba năm ngắn ngủi đã dựng nên cơ nghiệp bạc ngàn, ruộng đất thẳng cánh cò bay. Nhưng phàm ở đời, người ta tham thêm một chút, liều lĩnh đi trước người khác một bước thì cũng dễ lạc chân vô những mối làm ăn mờ ám, một đi không trở lại lúc nào chẳng hay.
Nhà họ Lê khi ấy cũng đang ở buổi hưng thịnh, tiền vô như nước. Cậu Hai Trí vừa mới tiếp quản phần lớn sản nghiệp và các mối làm ăn của gia tộc, tuổi đời còn trẻ mà tính khí lại có phần hiếu thắng, ngang tàng. Sẵn có tiền tài, có danh vọng trong tay, ông lại thường xuyên giao du với đám thương lái lớn nhỏ trên Sài Gòn, thành thử ra đêm nào cũng tiệc tùng, rượu chè be bét, nhảy đầm hát xướng liên miên từ tối tới sáng.
Người đời vẫn thường nói, giang sơn dễ đổi bản tính khó dời, và chỉ cần một cơn men đủ nặng cũng có thể khiến cho một kẻ dẫu có khôn ngoan tới đâu cũng phải bước lầm một nước cờ chí mạng.
Và đúng vào cái năm định mệnh ấy…
Chỉ vì vài ba lời đường mật bùi tai bên bàn rượu của đám bạn hàng, ông Trí đã nhắm mắt đưa chân vô một chuyến hàng cấm gạt gẫm, một phi vụ làm ăn lớn tới mức mà cả đời ông sau này dẫu có hối hận, có van xin, cũng hông còn cơ hội nào để quay đầu lại nữa.
Thoạt đầu, mọi chuyện vẫn êm ru.
Chuyến hàng bí mật ấy thuận lợi rời bến giữa một đêm không trăng. Đám người tham gia ai nấy đều đinh ninh chỉ cần qua khỏi mấy trạm kiểm soát của lính Tây là tiền bạc sẽ chảy vô túi như nước lũ đầu nguồn. Ông Trí cũng nghĩ vậy. Ông đâu biết rằng, ngay từ trước khi ghe vừa nhổ neo, thì sóng gió đã chực chờ ập tới rồi.
Chỉ hơn một ngày sau, tin dữ truyền về.
Đoàn ghe bị chặn giữa đường. Lính mã tà phối hợp với quan Tây lục soát từng khoang hàng, từng bao tải. Những bánh thuốc phiện cấm được lôi ra từ những hộc gỗ bí mật, chất đầy trên bến như chứng cớ không thể chối cãi.
Tin tức lan nhanh chẳng khác gì lửa bén đồng khô. Người trong chợ bàn tán, đám thương lái xì xào, khắp vùng ai nấy đều kháo nhau rằng nhà họ Lê phen này khó mà yên ổn.
Tới bấy giờ, ông Trí mới thật sự tỉnh cơn men.
Suốt mấy đêm liền, đèn trong nhà trên sáng trắng tới tận gà gáy. Quan huyện, thông ngôn, luật sư người Pháp, những tay cò quen biết… người ra kẻ vào không ngớt. Tiền bạc như nước đổ hết xuống sông, chỉ mong đổi lấy một con đường sống cho cậu công tử độc nhất của dòng họ Lê.
Nhưng dẫu có nhiều tiền đến đâu, thì những tội tày trời này cũng phải có một người đứng ra nhận tội.
Một kẻ đủ thấp cổ bé họng. Một kẻ dẫu có chết cũng chẳng mấy ai quan tâm.
Và rồi, ánh mắt của những kẻ nắm quyền trong nhà họ Lê ngày ấy, không hẹn mà cùng dừng lại trên một cái tên, Công.
Bấy lâu nay ở trong dinh cơ này, tuy chỉ mang thân phận gia nhân nhưng Công lại là người được ông Hội đồng khi ấy hết mực tín nhiệm.
Công vốn là người hiền lành, chăm chỉ, lại có cái chữ trong bụng nên khi mới vào nhà này làm, vì thời gian ngắn đã được giao coi sóc sổ sách, ghi chép hàng hóa và theo ghe xuống bến kiểm kê mỗi khi có chuyến hàng lớn cập bến.
Bao năm qua, mọi số lượng hàng hóa ra vào, hóa đơn, biên nhận, dấu triện… phần nhiều đều qua tay ông trước rồi mới trình lên chủ.
Thành thử, trong mắt người ngoài, Công tuy không phải người nhà họ Lê nhưng lại là kẻ nắm rõ đường đi nước bước của từng ghe hàng hơn bất cứ ai. Mà cũng chính vì vậy, đến khi chuyến hàng cấm kia bị quan Tây bất ngờ khám xét giữa bến sông, mọi chứng cứ dường như đều đồng loạt hướng về phía ông.
Sổ sách có tên ông. Biên nhận có nét chữ của ông. Danh sách kiểm kê cũng do chính tay ông ghi chép.
Những kẻ từng ngày ngày nâng ly gọi nhau là anh em với cậu Hai Trí, chỉ trong một đêm đã đồng loạt quay lưng, ai nấy đều một mực khẳng định rằng toàn bộ việc nhập hàng đều do Trí đứng ra thu xếp.
Nhưng ông bá hộ Lê làm sao mà để cho con trai độc nhất của mình chịu tội được…
Thế mà, một kẻ mồ côi, không họ hàng thân thích, không thế lực chống lưng như ông Công, bỗng chốc bị đẩy ra trước đầu sóng ngọn gió.
Người duy nhất thật sự có thể chỉ mặt kẻ chủ mưu… lại bỗng trở thành kẻ gánh hết mọi tội lỗi. Không ai buồn hỏi vì sao, cũng chẳng ai muốn nghe ông giải thích. Ở cái thời buổi tiền bạc làm chủ ấy, người nghèo vốn dĩ chưa bao giờ có quyền tự quyết số phận của mình.
Giữa sân lớn nhà họ Lê hôm ấy đông nghịt người.
Đám gia nhân chen chúc đứng nép dọc theo hàng hiên, chẳng ai dám hó hé nửa lời. Ngoài cổng, mấy tên lính mã tà mặc sắc phục đứng lăm lăm súng trường, còn mấy viên quan Tây thì ngồi ngay ngắn trên bộ ghế gỗ giữa sân, mặt lạnh tanh.
Ở chính giữa khoảng sân gạch đỏ.
Công bị trói giật hai tay ra sau cột vào một cây cột gỗ lớn.
Chiếc áo bà ba đã sớm rách bươm, vai áo nhuốm đầy bụi đất. Một tên lính vừa quất roi mây xuống lưng ông thêm một cái.
Chát!
Tiếng roi xé gió vang chát chúa.
– AHHHGG!!!!
Công nghiến răng, cả người run bần bật nhưng vẫn ngẩng đầu nhìn thẳng.
– Tui… Tui hổng có làm…
Một tên thông ngôn đứng kế bên lập tức quát lớn:
– Còn chối nữa hả!?
Hắn quay sang viên quan Tây, nói một tràng tiếng Pháp rồi chỉ thẳng về phía Công.
Viên quan chỉ khẽ gật đầu. Rồi tên lính lại vung roi.
Chát!
Lần này mạnh tới mức cả thân người Công chúi hẳn về phía trước. Máu bắt đầu rịn qua lớp áo.
Đúng lúc ấy…
Hai Trí từ từ bước ra, dáng vẻ vẫn ung dung như chẳng hề liên quan tới chuyện trước mắt.
Ông nhìn Công rất lâu rồi mới khẽ lắc đầu, giọng đầy vẻ thất vọng.
– Tao thiệt không ngờ…
– Bao năm nay tao tin tưởng giao cho mày coi sóc ghe hàng, kiểm kê hàng hóa, ghi chép sổ sách. Trong nhà này, ngoài tao với ông quản thì chỉ có mình mày biết chữ nghĩa, biết tính toán.
Ông dừng một chút.
– Vậy mà mày lại lợi dụng sự tin tưởng đó…
– Lén cấu kết với người ngoài, giấu thuốc phiện trong mấy chuyến ghe của tao, thanh danh của tao chút xíu nữa là bị mày bôi bác rồi!!!
Cả sân xôn xao.
Còn Công như chết sững.
Ông trợn trừng hai mắt nhìn người chủ mà mình đã tận tụy làm việc bao năm.
– Cậu Hai…
– Cậu … nói cái gì mà kỳ vậy!? Tui …chưa từng…
– Tui chưa từng đụng vô thứ đó!
Trí lập tức cắt ngang.
– Vậy mày giải thích sao đây!? sổ do chính tay mày ghi. Mấy chuyến ghe xảy ra chuyện đều do mày kiểm kê. Chữ cũng là chữ của mày.
Công lắc đầu liên tục.
– Phải… phải là chữ tui… Nhưng hàng hóa đâu phải một mình tui quyết!… Mỗi chuyến ghe đều có người khác kiểm lại!
– Tui bị oan! Tui bị oan mà cậu hai… Xin cậu, cậu kiểm tra lại kỹ đi… Tui hông có làm mấy cái chuyện phi pháp vậy đâu mà…
– Tui… bị oan mà!
Tiếng kêu gần như vỡ vụn. Nhiều trận đòn roi nữa lại giáng xuống.
Chát! Chát! Chát… Ngày hôm đó, tiếng rên la đau đớn của Công như ám lên toàn bộ dinh cơ nhà họ Lê một màu u uất đến rợt người, gió thổi mùi máu tanh loan ra khắp mấy gian nhà trước.
Mãi cho đến khi Công khuỵu hẳn xuống, không còn sức chịu nổi nữa…
Máu từ phía sau lưng theo ống quần nhỏ từng giọt xuống nền gạch đỏ.
Ông vừa thở dốc vừa ngước nhìn lên hàng hiên.
Đôi mắt đỏ hoe tuyệt vọng.
– Tui… thiệt hổng có làm…
Trên bậc thềm.
Bà Hai đứng chết lặng.
Một tay ôm lấy cái bụng đã lớn vượt mặt, một tay bấu chặt cột nhà tới trắng bệch các đầu ngón tay.
Nước mắt cứ thế trào ra. Bà muốn chạy xuống.
Muốn ôm lấy người đàn ông đang bị đánh tới chết kia. Muốn nói với tất cả mọi người rằng ông ấy không thể nào làm chuyện đó.
Nhưng… Bà không thể. Chỉ cần bước xuống một bước… Tất cả sẽ chấm hết.
Cả bà.
Cả Thiện… đứa con năm tuổi đang đứng nép sau lưng khóc nấc lên, giọng run run, chữ được chữ mất.
– Má ơi… Chú Công…sao bị đánh dữ dị má!!? Thả chú ấy ra đi mà!!!
Bà chẳng biết trả lời như thế nào, chỉ vội đẩy Thiện đi vào nhà trong, không cho coi tiếp.
Cả đứa bé còn chưa kịp chào đời trong bụng nhưng cũng đang muốn khóc.
Mỗi một tiếng “chát” vang lên…
Là trái tim bà như bị xé thêm một mảnh. Cho đến khi…
Một cơn đau buốt bất ngờ quặn thắt từ bụng dưới kéo lên tận lồng ngực. Bà khựng người. Hai tay ôm bụng.
Mồ hôi lạnh túa ra đầy trán.
Một dòng nước ấm nóng chảy dọc theo hai chân.
Bà chỉ kịp gọi nghẹn một tiếng.
– Công…
Rồi cả người mềm nhũn.
Đổ gục xuống ngay trên bậc thềm.
Máu đỏ thẫm nhanh chóng loang ra dưới tà váy.
Lúc đó… Khắp nhà họ Lê lập tức náo loạn.
Sau một đêm dài oằn mình trong đau đớn, bà Hai hạ sinh được cậu con trai thứ hai, đặt tên là Nhân.
Ngặt nỗi, cậu ba Nhân do sinh non nên thân thể yếu ớt lắm, tiếng khóc chào đời cũng eo sèo, nhỏ xíu như tiếng mèo con. Sức khỏe của bà Hai sau cuộc vượt cạn thập tử nhất sinh ấy cũng hoàn toàn kiệt quệ, cả ngày chỉ nằm thiêm thiếp trên giường, hơi thở đứt quãng hông dừng.
Vài đêm sau đó, dẫu người trong nhà có cố tình kín miệng, canh chừng ráo riết tới đâu cũng không cách nào giấu được tin tức động trời từ phía huyện đưa về.
Công bị khép tội mưu nghịch buôn hàng cấm, lãnh án tù chung thân!
Nhưng đau đớn thay, khi bị tống vào phòng giam tối tăm chưa được bao lâu, do những vết thương chí mạng từ những trận đòn tra tấn dã man trước đó găm vào da thịt, ông đã không chịu thấu mà trút hơi thở cuối cùng trong sự tức tưởi. Ông chết lạnh lẽo trên nền đất ẩm mốc của nhà lao, mang theo nỗi oan thấu trời xuống nấm mồ chôn không được đàng hoàng, tử tế!