Tôi sinh ra ở một ngôi làng chài nhỏ nằm sát mép biển miền Trung. Nơi mà ngày nào cũng dậy mùi muối mặn, gió biển phả vào mặt rát rát. Sống quanh năm với biển, con nít nhỏ xíu đã biết gỡ cá, xếp mực. Đứa nào đứa nấy, đen nhẻm, ốm nhom nhưng khỏe mạnh lắm.
Năm tôi tám tuổi, cha mẹ nhận nuôi một đứa con trai mồ côi. Ảnh lớn hơn tôi năm tuổi, da cũng đen sạm, vai cũng gầy gầy, tay chân lúc nào cũng chi chít vết cắt do dây lưới hằn vào. Anh tên Mạnh nhưng tôi quen gọi ảnh là Hai Đen.
Anh hai của tôi khá ít nói, cứ lầm lũi theo cha xuống ghe, phụ kéo lưới, chèo chèo, nhưng hễ tôi lon ton chạy theo sau, vòi vĩnh học buộc nút dây, học vá lưới, thì ảnh chẳng bao giờ gạt đi.
Có bữa cả hai đứa trần trụi nhảy ùm xuống biển, tắm đến khi da cháy khét mới chịu lên bờ, môi thì tím tái, run cầm cập mà vẫn còn cười hề hề.
Thế nhưng cái làng chài nhỏ đó cũng khắc nghiệt lắm. Mỗi khi bão ập tới, gió gào như muốn xé rách bầu trời, sóng dựng cao ngất. Cha mẹ tôi ra khơi hôm ấy… rồi chẳng bao giờ trở về nữa. Người ta chỉ vớt được vài mảnh gỗ vỡ và cái nón lá rách tang hoang.
Từ ngày ấy, trong tôi như có cái gì đó gãy vụn mà mãi mãi cũng không thể hàn gắn lại được. Tôi không còn là cái thằng nhỏ ngoan ngoãn bám riết lấy anh hai nữa. Tôi trở nên cộc cằn, lời nói lúc nào cũng chát chúa, gai góc. Còn anh hai thì vẫn luôn là người lặng lẽ gồng vai mà chịu đựng cái tính nết khó ưa của tôi, vừa làm anh vừa làm cha, làm mẹ lo cho tôi ăn học, vừa cáng đáng chuyện nhà, chuyện ghe, giữ luôn cái nghề biển bạc bẽo mà cha mẹ để lại.
Rồi cứ thế mà chúng tôi lớn, mang theo vết thương vẫn chưa lành.
Ở cái tuổi nổi loạn, tôi thấy mình ngột ngạt giữa làng biển nhỏ hẹp. Tốt nghiệp cấp ba, tôi quyết định rời đi. Tôi bỏ lại anh hai, bỏ lại mái nhà, bỏ luôn cả cái ghe, cái nghề của cha mẹ. Rồi tôi khăn gói lên Sài Gòn, tự nhủ sẽ tìm cho mình một lối sống khác.
Những năm sau đó, anh hai thường xuyên dò hỏi, tìm địa chỉ để gửi tiền phụ tôi ăn học, tiêu xài. Nhưng tôi cố tình lẩn tránh. Tôi không muốn nhận, thậm chí có lúc còn thấy khó chịu vì sự quan tâm đó. Cứ như thể… tôi chẳng còn muốn có một người anh nào trên đời này nữa.
Tôi đổi chỗ trọ liên tục, bỏ dở việc học, lao vào những cuộc chơi vô nghĩa. Đi làm rồi lại nghỉ, lang bạt hết chỗ này sang chỗ khác. Tôi sống buông thả, không mục đích, không kế hoạch, cảm giác như bản thân mình cứ trôi lênh đênh như con thuyền rách buồm ngoài biển lớn vậy.
Có một điều mà tôi chẳng bao giờ nói ra, nhưng lòng lúc nào cũng thấy trống rỗng. Tôi ghen tị với bạn bè có cha có mẹ đưa đón, ghen với mấy đứa nhỏ trong làng còn được nghe tiếng cha gọi, được mẹ nấu cơm dọn cá cho ăn – cái điều mà lúc trước tôi cảm thấy bình thường bao nhiêu thì bây giờ lại trở nên xa xỉ, khó tìm bấy nhiêu. Người ta có gia đình hạnh phúc, còn tôi thì chỉ còn lại anh hai, một người anh nuôi không chung máu mủ, cũng chẳng biết cách dỗ dành tôi.
Anh hai thương tôi bằng cách của riêng ảnh, lặng lẽ, âm thầm. Nhưng cái tình thương đó của anh, và ở cái tuổi bướng bỉnh của tôi, tôi không nhận ra. Tôi chỉ thấy nó gượng gạo, xa cách, chẳng bù đắp nổi chỗ trống trong lòng. Dần dần, tôi khép mình, rồi hóa cộc cằn, nổi nóng với đủ thứ chuyện nhỏ nhặt. Tôi không muốn ai thương hại, cũng không muốn ai ràng buộc mình.
Thành ra khi có cơ hội thoát khỏi cái làng chài, cái nhà chật hẹp buồn tẻ ấy, tôi đi ngay. Tôi nghĩ chỉ cần rời khỏi nơi chất đầy kỷ niệm buồn, tôi sẽ thấy dễ thở hơn. Nhưng càng đi xa, tôi càng giống một kẻ lạc lối, chẳng bám được vào đâu, chẳng biết mình sống để làm gì. Một đứa trẻ tổn thương ngày nào, lớn lên rồi cũng chỉ là một thằng trai lạc lối giữa cuộc đời.
Đến khi đủ lớn rồi, va vấp đủ chuyện, tôi mới nhận ra mình đã ích kỷ đến mức nào. Ngày xưa tôi cứ trách anh hai không biết an ủi, không biết dỗ dành, nhưng có lẽ tôi chưa bao giờ thử hiểu cho ảnh. Tôi chỉ lo nhìn vào nỗi mất mát của riêng mình, mà quên rằng anh hai cũng là đứa trẻ mồ côi, cũng đã một lần mất cha mẹ… và rồi đến khi cha mẹ tôi mất đi, ảnh mất thêm một nửa bầu trời…
Tôi còn có cớ để nổi loạn, để bỏ đi, để chối bỏ ký ức. Còn anh thì không. Anh gồng lưng ở lại, tự nguyện nhận hết phần nặng nhọc, vừa giữ nhà, giữ hình bóng cha mẹ cho cả hai chúng tôi. Anh hai thương tôi bằng cách cứng cỏi và vụng về nhất, còn tôi thì chỉ biết oán trách, trốn chạy.
Nhiều năm sau, khi nghĩ lại, tôi mới thấy mình đúng là thằng con nít ích kỷ. Tôi đã bỏ mặc anh, bỏ mặc cả tình thương duy nhất còn sót lại giữa đời mình.
Một ngày bình thường ở Sài Gòn, trong căn nhà trọ ọp ẹp ở một khu dân cư nhỏ, tôi trả phòng. Gom hết số tiền mà tôi tiết kiệm được, quay về quê, về lại cái nơi mà mình từ muốn quên đi mãi mãi.
– Anh hai, em xin lỗi!